Trong bối cảnh khó khăn về kinh tế hiện nay, hàng loạt doanh nghiệp đang rơi vào tình trạng thua lỗ, mất khả năng thanh toán. Theo nguồn tin trên báo www.cafef.vn thì từ đầu năm đến nay cả nước ta có khoản 50.000 doanh nghiệp rơi vào tình trạng giải thể hoặc phá sản.

original-72-large

Hàng loạt các ngành đang xem xét việc tái cấu trúc, từ tái cấu trúc doanh nghiệp cho đến việc tái cấu trúc nền kinh tế. Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là hoàng loạt doanh nghiệp rơi vào trình tràng khó khăn, không tiến hành hoạt động nhưng tại sao chỉ có một số ít doanh nghiệp tiến hành thủ tục giải thể hoặc tiến hành thủ tục phá sản? Nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng doanh nghiệp không hoạt động nữa hoặc thua lỗ mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn lại không tiến hành các thủ tục theo quy định của nhà nước?

Hệ lụy của việc không tiến hành thủ tục giải thể, phá sản như thế nào? Ảnh hưởng của doanh nghiệp, những cá nhân tổ chức  là chủ sở hữu doanh nghiệp ra sao? Mức độ ảnh hưởng đến các chủ thể khác như chủ nợ, người lao động và mức độ ảnh hưởng chung so với nền kinh tế như thế nào? Trong bài viết này tác giả đi vào phân tích điều mà chúng ta hay ẩn dụ nói đến đó là: “ Vì sao doanh nghiệp chết mà không đem chôn?”.

1.      Về khía cạnh pháp lý:

Một doanh nghiệp như thế nào được xem là đã chết hoặc phải chết? Khái niệm chết ở đây, tác giả muốn đề cập đến việc doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại. Như vậy trong những trường hợp nào doanh nghiệp sẽ chết hoặc là phải chết? Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì có hai trường hợp doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại còn gọi là chết; đó là doanh nghiệp giải thể hoặc bị tuyên tố phá sản.

Về trường hợp giải thể: (a) Khi hết thời gian hoạt động mà 2 doanh nghiệp không gia hạn; (b) khi Doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; (c) Khi công ty  không còn số lượng thành viên tối thiểu trong thời hạn 6 tháng.

Đối với trường hợp này, tác giả muốn đề cập đến việc doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc doanh nghiệp không còn hoạt động nữa nhưng không tiến hành thủ tục giải thể bởi vì thủ tục giải thể còn rất phiền phức, thời gian rất lâu. Đồng thời doanh nghiệp không thể thanh toán đủ các khoản nợ khi tiến hành giải thể. Chính vì vậy, doanh nghiệp sẽ chọn giải pháp là cứ tự động dừng hoạt động đến một lúc nào đó thì cơ quan có thẩm quyền sẽ xóa tên doanh nghiệp. Chính vì vậy,mới có hiện tượng nhiều doanh nghiệp chết mà không đem chôn! Bởi vì, đối với trường hợp này gần như doanh nghiệp và người thành lập, quản lý doanh nghiệp cũng không bị quy trách nhiệm rõ ràng.

Về  trường hợp phá sản: Theo Luật phá sản năm 2004, để xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu. Quy định này nghe dễ dàng nhưng thực tế rất khó thực hiện trên thực tế, đồng thời trình tự thủ tục phá sản mất thời gian rất lâu và việc thu hồi vốn sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản gặp những khó khăn nhất định nên trên thực tế rất ít doanh nghiệp nộp hồ sơ yêu cầu tuyên bố phá sản:

Chúng tôi cho rằng: “ Vì sao doanh nghiệp chết mà không đem chôn”, xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Thứ nhất,những quy định của Luật phá sản năm 2004 chưa phù hợp với thực tế. Đặc biệt liên quan đến căn cứ xem xét doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.

Thứ hai,thời gian , thủ tục giải quyết phá sản rất lâu, thông thường là từ một năm trở lên.

Thứ ba,khả năng đòi nợ của doanh nghiệp yêu cầu tuyên bố phá sản rất thấp. Theo thống kê thì số nợ mà chủ nợ có thể nhận lại sau khi tuyên bố phá sản là khoảng 15%.

Thứ tư, Việc khởi kiện ra tòa yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng khả thi hơn. Bởi vì, nếu khởi kiện ra Tòa mà doanh nghiệp mắc nợ còn tài sản thì chủ nợ sẽ dễ dàng thu hồi hơn sau khi có bản án của Tòa án.

Thứ  năm, tâm lý người nộp đơn rất e ngại khi nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản. Bởi vì, họ vừa mất thời gian, chi phí nhưng khi thanh toán thì cũng được thanh toán bằng với các chủ nợ khác theo tỷ lệ tương ứng.

Thứ sáu,việc quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của người đại diện doanh nghiệp không rõ ràng. Vì vậy, thông thường người đại diện theo pháp luật họ sẽ không tự nguyện nộp đơn mặc dù họ biết rất rõ doanh nghiệp của mình đã lâm vào tình trạng phá sản.

Thứ bảy, các cơ quan giám sát quản lý doanh nhiệp quá yếu kém. Việc yếu kém này thể hiện khi gần như không có cơ quan nào phát hiện doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hay không có cơ quan nào giám sát và có biện pháp thích hợp đối với doanh nghiệp phá sản.

2.      Tác động của doanh nghiệp chết mà không đem chôn:

Việc một doanh nghiệp chết mà không đem chôn gây lại rất nhiều hệ lụy cho xã hội.  Nếu không giải quyết kịp thời không chỉ ảnh hưởng đến nhiều lợi ích cá nhân mà còn gây ảnh hưởng xấu cho toàn xã hội. Chúng tôi cho rằng một doanh nghiệp chết mà không đem chôn gây ảnh hưởng  như sau: Thứ nhất, bản thân doanh nghiệp đó sẽ rơi vào trạng sống dỡ chết dỡ; Thứ hai, bản thân đối tác sẽ gặp khó khăn trong quá trình đòi nợ;Thứ ba, bản thân người lao động cũng gặp khó khăn khi không được nhận lương đầy đủ; Thứ tư, những người sáng lập ra doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc tiếp tục tham gia kinh doanh; Thứ năm, dễ gây ra hiệu ứng dây chuyền “ hiệu ứng Domino” cho nền kinh tế.

3.      Một số đề xuất

Thứ nhất, cần đơn giả hóa thủ tục phá sản hiện nay. Đặc biệt là giảm về thời gian giải quyết phá sản doanh nghiệp hiện nay.

Thư hai, cần quy định rõ trách nhiệm của người có nghĩa vụ nộp đơn. Các cơ quan nhà nước cần có biện pháp xử lý thích đáng đối với người đại diện theo pháp luật nếu họ không nộp đơn khi phát hiện doanh nghiệp mình lâm vào tình trạng phá sản.

Thứ ba, cần quản lý tài sản, tránh tẩu tán của doanh nghiệp khi xác lập thủ tục phá sản.

Thứ tư, cần quy định rõ trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp khi không góp vốn đủ vào doanh nghiệp.

Thứ năm, các cơ quan nhà nước cần phải tăng cường kiểm tra, giám sát những doanh nghiệp làm vào tình trạng phá sản.

Thứ sáu, cần phải minh bạch tài sản hiện nay giữa doanh nghiệp và cá nhân góp vốn.

Tóm lại, việc tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết để chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp khi doanh nghiệp đó rơi vào tình trạng phá sản hay giải thể là một yêu cầu chung. Để thực hiện hoạt động này có hiệu quả, các cơ quan nhà nước, các tổ chức cá nhân cần phải nghiêm chỉnh chấp hành thực thi những quy định của pháp luật tạo nền tảng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.

Thạc sĩ Nguyễn việt Khoa.

Khoa Luật kinh tế ĐH Kinh tế TP.HCM